Gia đình tôi năm 1999 có 6 người gồm Bà nội, bố tôi, mẹ tôi, và 3 anh chị em tôi. Tất cả đều đồng ý cho Bố tôi làm sổ chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên: Hộ ông Nguyễn Văn A. Từ đó tới nay không có bất kỳ tranh chấp hay khiếu nại nào liên quan đến mảnh đất này. Gia đình tôi cũng hoàn thành mọi khoản đóng góp, thuế khoá liên quan đến mảnh đất trên.
Đến năm 2008 Bà nội tôi do tuổi cao sức yếu đã mất. Đến năm 2022, 3 anh chị em tôi đã đều lập gia đình và có nhu cầu chia mảnh đất đó ra mỗi người một phần nhằm thuận tiện cho việc làm ăn của từng người. Khi nhờ cơ quan địa chính giúp đỡ thì lại được hướng dẫn viết giấy đồng ý của các bác, chú, cô, dì gồm 6 người khác (là con của Bà nội tôi, và đã đều thành gia lập thất và có nhà đất riêng từ trước đó nhiều năm). Và 2 trong số những người này là Bác và chú trai nhà tôi lại không đồng ý và có yêu cầu chia phần.
Luật sư cho tôi hỏi, sự việc của gia đình tôi như vậy thì nên giải quyết như thế nào? Việc các bác các chú tôi yêu cầu được chia phần có đúng theo pháp luật không?
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:
1. Xác định các thành viên trong hộ gia đình khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất (giấy chứng nhận).
Theo thông tin anh cung cấp, năm 1999 gia đình anh gồm có: Bà nội, bố, mẹ, và 3 anh chị em. Tất cả đều đồng ý cho Bố làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đứng tên: Hộ ông Nguyễn Văn A.
Pháp luật đất đai thời kỳ năm 1999 (Luật đất đai năm 1993, sửa đổi năm 1998) không có khái niệm cụ thể về Hộ gia đình sử dụng đất mà áp dụng quy định Hộ gia đình được định nghĩa theo quy định tại Bộ luật dân sự 1995 như sau:
“Điều 116. Hộ gia đình
1- Những hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung để hoạt động kinh tế chung trong quan hệ sử dụng đất, trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và trong một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể trong các quan hệ dân sự đó.
2- Những hộ gia đình mà đất ở được giao cho hộ cũng là chủ thể trong quan hệ dân sự liên quan đến đất ở đó.”
Tuy nhiên, đến thời điểm Bộ luật dân sự 2015 ra đời đã có quy định về việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai. Tại khoản 25 điều 3 Luật đất đai 2024 quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành.”. Chiểu theo quy định trên có thể hiểu, để được xác định tư cách thành viên trong hộ gia đình và có chung quyền sử dụng đất thì các thành viên của hộ cần thỏa mãn 3 dấu hiệu sau:
- Thành viên gồm những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình;
- Đang sống chung;
- Có Quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyề sử dụng đất.
2. Thủ tục tách thửa và phân chia tài chung hộ gia đình
Thực tiễn về quản lý đất đai hiện nay xác định thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất, cần thiết phải xác minh hồ sơ cấp Giấy chứng nhận tại thời điểm cấp làm căn cứ xác định thành viên có quyền liên quan đến đất.
Theo dữ kiện anh nêu, trường hợp tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận hộ gia đình ông Nguyễn Văn A gồm 6 người: bà nội của anh; bố, mẹ anh; (03) anh, chị, em. Theo quy định tại điều 212 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“1. Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.
2. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại Bộ luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 213 của Bộ luật này. “
Như vậy, quy định pháp luật dân sự về quyền sử dụng đất của hộ gia đình thuộc hình thức sở hữu chung theo phần và việc xác định phần giá trị sử dụng của từng thành viên đối với đất chung sẽ dựa theo nguồn gốc tài sản, công sức đóng góp, tạo lập tài sản của mỗi thành viên trong hộ gia đình đó. Giả sử trường hợp anh nêu các thành viên hộ gia đình có công sức đóng góp như nhau hoặc đã có thỏa thuận tỷ lệ phân chia theo phần khi cấp Giấy chứng nhận thì thực hiện chia tài sản chung theo quy định tại điều 219 Bộ luật dân sự 2015:
“Điều 219. Chia tài sản thuộc sở hữu chung
1. Trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu tình trạng sở hữu chung phải được duy trì trong một thời hạn theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của luật thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.”
Đối với phần diện tích đất của bố mẹ và 3 anh chị em anh thì mỗi người có quyền tự mình định đoạt (bao gồm yêu cầu tách thửa hoặc chia tài sản theo quy định nêu trên). Riêng phần của bà nội, do bà đã đã mất năm 2008 phần đất này được xác định là di sản thừa kế phải được phân chia theo di chúc, trường hợp bà mất không để lại di chúc thì thực hiện chia theo pháp luật.
Dữ kiện anh nêu có thể xác định hàng thừa kế thứ nhất của bà nội là 6 người con và họ có quyền ngang nhau với phần di sản của mẹ để lại (bà nội) bao gồm cả việc ngăn chặn không cho thực hiện các giao dịch về đất khi chưa có văn bản phân chia di sản thừa kế. Theo quy định tại khoản 1 điều 623 Bộ luật dân sự 2015, thì thời hiệu chia di sản thừa kế của bà nội vẫn còn (thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản) do đó các đồng thừa kế (không gồm 3 anh em anh) có thể thỏa thuận phân chia di sản thừa kế này và thực hiện công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản. Trường hợp không thỏa thuận được, các đồng thừa kế có quyền khởi kiện ra tòa để yêu cầu phân chia di sản thừa kế.
Theo đó, như phân tích nêu trên để thực hiện việc tách thửa và cấp lại Giấy chứng nhận cho 3 người anh cần phải thực hiện/yêu cầu thực hiện:
Bước 1: Phân chia di sản thừa kế của bà (giả sử hàng thừa kế thứ 1 của bà chỉ là 6 người con) cho 6 người con (trường hợp những người thuộc hàng thừa kế không từ chối nhận hay tặng cho thì họ được quyền yêu cầu chia và hưởng 1 phần di sản của bà). Việc phân chi có thể mô tả như sau:
|
Thửa đất hộ gia đình ông Nguyễn Văn A được chia theo phần như sau: |
|||||
|---|---|---|---|---|---|
|
Bà nội |
Bố |
Mẹ |
Con 1 |
Con 2 |
Con 3 |
|
Phần của Bà nội là di sản thừa kế được chia cho 6 người con |
05 người có quyền tự định đoạt phần đất của mình được hưởng trong khối tài sản chung (sau khi tách thửa hoặc xác định mốc giới theo phần) |
||||
|
Phân chia |
Bố anh |
Họ có quyền ngang nhau cho phần di sản của bà để lại, trường hợp họ không nhận di sản thừa kế thì phải làm thủ tục tặng cho/chuyển nhượng cho người khác. |
|||
|
Con thứ 1 |
|||||
|
Con thứ 2 |
|||||
|
Con thứ 3 |
|||||
|
Con thứ 4 |
|||||
|
Con thứ 5 |
|||||
Bước 2 (nếu có nhu cầu): Bố mẹ thực hiện tặng cho 3 người con
Bước 3: Thực hiện việc đo đạc, tách thửa và cấp Giấy chứng nhận cho cá nhân sử dụng đất (nếu đủ diện tích tách thửa theo quy định của địa phương).
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: